LỢI DỤNG HẠN, MẶN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

LỢI DỤNG HẠN, MẶN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ



Người con đất mẹ










LỢI DỤNG HẠN, MẶN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ



Khi mà chính quyền, người dân tập trung cao độ gồng mình chống lại “thách

thức kép” thì phẫn nộ thay, các đối tượng, phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng

tình hình khó khăn trên để xuyên tạc, kích động chống phá.

Trong điều kiện đất nước đang gồng mình

phòng, chống dịch bệnh COVID-19 thì người dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

cũng đang đối mặt với hạn, xâm nhập mặn nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề tới

cuộc sống và sản xuất. Trong đó 5 tỉnh là Bến Tre, Tiền Giang, Kiên Giang, Cà

Mau và Long An đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp thiên tai.


Khi mà chính quyền, người dân tập trung cao

độ gồng mình chống lại “thách thức kép” thì phẫn nộ thay, các đối tượng, phần

tử cơ hội chính trị lại lợi dụng tình hình khó khăn trên để xuyên tạc, kích

động chống phá.

Trên nhiều phương tiện truyền thông, các

trang mạng xã hội của các tổ chức phản động lưu vong, phần tử cơ hội chính trị

trong, ngoài nước tập trung, triệt để lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn

đang diễn ra gay gắt ở các tỉnh ĐBSCL, để xuyên tạc: Có kết quả này là do ĐBSCL

bị “bỏ rơi”. Năm 2020, Đồng Tháp Mười đã biến mất. Cả Nam Bộ ngồi đếm ngày mất

dần ĐBSCL.

Căn cứ vào đây, họ suy diễn theo kiểu “đổi

trắng thay đen”, “có ít xít ra nhiều”, đặt điều rằng: Thảm họa hơn, nhân dân

phải rời bỏ đất cha ông để tìm kiếm nơi ở mới, người dân phải lên Tây Nguyên,

một phần tản lạc lên phố thị, tha phương đến miền Trung, lưu lạc ra cả

miền Bắc; một bộ phận phiêu dạt mãi tận xứ Cao Ly ở phía Đông, đến vùng sa mạc

Sahara ở phía Tây, thậm chí cả xứ Mễ Tây Cơ, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại bên kia bán

cầu…

Bộ phận người dân còn lại đang ngửa cổ mong

chờ phép màu từ tạo hóa. Họ tuyệt đối hoá rằng: “Thảm trạng này do có sự tiếp

sức, cho phép của việc khai thác, tận thu cát vô tội vạ, sạt lở, sụt lún đã xảy

ra khắp nơi. Giờ “tan rã” không còn là nguy cơ, đe dọa huỷ diệt khu vực mà sản

vật tự nhiên vốn đa dạng, phong phú nhất Việt Nam”.

Họ quy kết nguyên nhân là do Đảng không ra

lệnh cải tạo vùng trũng là nơi tích nước cho ĐBSCL, tìm cách bằng các Nghị

quyết nhằm tăng sản lượng gạo ở ĐBSCL để vươn lên dẫn đầu về xuất cảng gạo, để

nâng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản, giúp chỉ tiêu tăng trưởng của năm sau cao

hơn năm trước. Họ đặt câu hỏi, tại sao một miền đất màu mỡ trù phú bậc nhất của

Tổ quốc lại bị bỏ rơi vào hoàn cảnh bi đát này? Cuối cùng, họ quy kết thảm

trạng này là do thể chế chính trị, do Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý non kém

tạo ra; Đảng, Nhà nước cố tình bưng bít thông tin thảm cảnh này. v.v.

ĐBSCL là vùng đất rộng lớn chiếm 12% diện

tích, 19% dân sốcả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát

triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung

tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam, đóng góp 50% sản lượng lúa, 65%

sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước, 95% lượng

gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao

thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Công.

Phải thừa nhận một cách khách quan, khoa học,

trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ĐBSCL có nhiều cơ hội phát triển

nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Đó là, biến đổi khí hậu và nước

biển dâng diễn ra nhanh và gay gắt, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan,

ảnh hưởng đến sinh kế, đời sống của người dân.

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, hạn hán,

xâm ngập mặn là hiện tượng tự nhiên, nguyên nhân chính vượt khỏi khả năng của

con người, quốc gia đơn lẻ. Để hạn chế tác động của nó cần phải có sự hợp tác,

đồng lòng không chỉ của quốc gia, đảng phái nào trên toàn thế giới.

Bên cạnh đó, dọc lưu vực sông Mê Kông, mỗi

quốc gia có lợi ích riêng của mình, việc khai thác tài nguyên nước trên thượng

nguồn, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng

phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào hạ vùng, tác động

tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội.

Mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế với

cường độ cao ở nội vùng bộc lộ ngày càng gay gắt, gây nhiều hệ lụy như: ô nhiễm

môi trường, mất cân bằng sinh thái, sụt lún đất, suy giảm mực nước ngầm, xâm

thực bờ biển, nhiều diện tích rừng tự nhiên…

Về chủ quan, công tác quản lý nhà nước trong

một số lĩnh vực, một số giải pháp, sự phối hợp còn thiếu chặt chẽ để hạn chế sự

ảnh hưởng, giảm thiểu sự tác động của thiên tai. Tuy nhiên, dựa vào đây để quy kết

hệ quả do sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, thể chế chính trị gây ra thì thật là

phiến diện, chủ quan.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước triển khai

nhiều giải pháp để giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, có nhiều chủ trương,

chính sách để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế – xã

hội ĐBSCL.

Vùng đất này đã có sự phát triển rõ rệt, đạt

được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực

nông nghiệp, nông thôn. Cơ sở hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ, đảm bảo

phục vụ tốt hơn cho các hoạt động kinh tế – xã hội, đời sống nhân dân không

ngừng cải thiện; đã khẳng định được vị thế là trung tâm sản xuất, xuất khẩu lúa

gạo, thủy hải sản và cây ăn quả hàng đầu của cả nước, góp phần bảo đảm an ninh

lương thực, mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể phục vụ phát triển đất nước.

Trong những ngày vừa qua, công tác chỉ đạo

chống hạn, mặn tại ĐBSCL được hệ thống chính trị và người dân quyết liệt tìm

cách giải quyết. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chi cho 5 tỉnh đã công bố tình huống

khẩn cấp 350 tỷ đồng để có nguồn lực ứng phó.

Hệ thống chính trị, tuyến đầu là bộ đội, công

an…không quản ngại khó khăn, gian khổ tìm mọi cách để có thể cung cấp đủ nước

ngọt sinh hoạt cho người dân; nhân dân cả nước đang chung tay ủng hộ, chia sẻ

những khó khăn của người dân nơi đây bằng những việc làm thiết thực nhất… Như

vậy, tại sao lại nói, ở ĐBSCL người dân đang bị bỏ rơi, biến mất?

Vậy mục đích, thủ đoạn của họ là gì? Chỉ có

thể là lợi dụng tình hình khó khăn, hạn hán, xâm nhập mặn để xuyên tạc, chống

phá. Họ quy kết để người dân lầm tưởng đó là kết quả sự lãnh đạo yếu kém của

Đảng và Nhà nước về vấn đề này, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào vai

trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Họ cho rằng, ĐBSCL bị “bỏ rơi”, quên lãng, bị

tận thu, không được quan tâm đầu tư…để kích động tâm lý tiêu cực của người dân,

chia rẽ vùng miền, khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục đích của luận điệu này

nằm trong ảo vọng xoá bỏ thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản

lý của Nhà nước, thực hiện mục tiêu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt

Nam.

 













 


 



Nguồn: Người con Đất Mẹ



Nguồn: Hội Cờ Đỏ

Đăng nhận xét

0 Nhận xét